Hàng năm, mỗi hecta đất lúa cao sản ở đồng bằng sông Cửu Long đã cho ra một lượng rơm rạ rất lớn, từ 14 đến 18 tấn (trung bình mỗi tấn lúa có 1 tấn rơm rạ). Nếu biết cách sử dụng tốt, phụ phẩm này sẽ đem lại nhiều lợi ích cho nhà nông.
Tuy nhiên, theo GS.TS. Nguyễn Bảo Vệ ở khoa nông nghiệp và sinh học ứng dụng, Trường đại học Cần Thơ, nếu xử lý rơm rạ không đúng có thể gây ngộ độc hữu cơ cho cây lúa. Thí nghiệm đồng ruộng cho thấy, làm đất vùi 6 tấn rơm rạ/ha trong điều kiện ngập nước rồi gieo lúa ngay đã làm giảm năng suất lúa khoảng 15% do lúa bị ngộ độc hữu cơ.
Tại sao rơm rạ gây ngộ độc hữu cơ cho cây lúa?
GS.TS. Nguyễn Bảo Vệ lý giải, rơm rạ là chất hữu cơ, nếu cày vùi vào đất sẽ được tập đoàn vi sinh vật trong đất như vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn phân hủy. Tùy theo độ thông thoáng của đất mà sản phẩm cuối cùng trong tiến trình phân hủy này cũng khác nhau:
– Ở đất không ngập nước, oxy trong không khí có thể đi vào trong đất đủ cho tập đoàn vi sinh vật háo khí (là vi sinh vật sống phải có oxy) phát triển để phân hủy rơm rạ. Sản phẩm cuối cùng của tiến trình phân hủy này là chất CO2 , NO3-, SO4 2-, nước và những chất mùn. CO2 là chất khí sẽ thoát ra khỏi đất và không làm hại rễ cây, còn NO3- và SO4 2- là dưỡng chất được cây hấp thụ. Vì vậy, rơm rạ phân hủy ở đất không ngập nước sẽ không tạo ra độc chất gây hại rễ của cây trồng.
– Còn ở đất ngập nước, oxy trong không khí không thể đi vào trong đất, nên tập đoàn vi sinh vật kỵ khí (là vi sinh vật sống không cần oxy) phát triển để phân hủy rơm rạ. Sản phẩm cuối cùng trong tiến trình phân hủy này là CH4, CO2 , H2 , H2 S, NH3 , acid hữu cơ, R-NH2 , RSH và những chất mùn. H2 S và acid hữu cơ là những chất gây độc cho bộ rễ lúa. Đặc biệt ở đất phèn, chôn vùi rơm rạ vào đất trong tình trạng ngập nước sẽ làm gia tăng ngộ độc sắt Fe2+ ở cây lúa. Như vậy, chôn vùi rơm rạ vào đất ngập nước sẽ tạo ra nhiều loại độc chất gây hại cho rễ lúa, nhất là trong khoảng 3 – 4 tuần đầu sau khi làm đất.
Về triệu chứng cây lúa bị ngộ độc hữu cơ và sắt, GS.TS. Nguyễn Bảo Vệ cho biết, khi cây lúa bị ngộ độc hữu cơ và H2 S: lá già bị vàng, lá non bị vàng phần thịt lá. Cây lùn, nhảy chồi kém. Rễ màu nâu đen đến đen, có mùi hôi, chết nhiều, mất khả năng oxy hóa nên dễ bị ngộ độc sắt Fe2+. Lúa hấp thụ dinh dưỡng kém, mất cân đối nên dễ nhiễm bệnh như bệnh đốm nâu. Năng suất lúa giảm.
Ngộ độc hữu cơ thường thấy ở đất trũng thấp, ngập nước, nhiều sét, ít thấm rút và có cày vùi nhiều rơm rạ. Khi cây lúa bị ngộ độc sắt thì triệu chứng trên lá đôi khi tương tự như ngộ độc hữu cơ, nhưng thường thì lá có màu nâu tím hoặc vàng cam. Cây sinh trưởng chậm, nhảy chồi kém. Rễ ít, ngắn, thô, có màu nâu hoặc đỏ. Lúa lép nhiều, năng suất giảm.
Ngộ độc sắt thường thấy ở đất phèn, trong khoảng 2 – 3 tuần đầu sau khi làm đất, nhất là khi có cày vùi nhiều rơm rạ.
Biện pháp khắc phục
Không nên để cho cây lúa bị ngộ độc hữu cơ và sắt rồi mới trị, mà cần có biện pháp phòng tránh. Biện pháp phòng trị ngộ độc hữu cơ được tiến hành như sau:
– Sau khi thu hoạch lúa nên cày ải, để rơm rạ được phân hủy ít nhất 1 tháng, và chỉ sạ lúa sau khi cho đất ngập từ 2 đến 3 tuần.
– Trong trường hợp không cày ải được vì phải gieo sạ lại ngay sau khi thu hoạch, phải cắt gốc rạ (dùng máy cắt gốc rạ) và di chuyển hết rơm và gốc rạ ra khỏi ruộng trước khi làm đất. Rơm rạ này có thể dùng để trồng nấm rơm hay ủ mục (dùng thêm nấm Trichoderma sp. cho mau mục) làm phân hữu cơ bón lại cho đất.
– Nếu không cắt được gốc rạ để di chuyển ra khỏi ruộng, phải áp dụng biện pháp rút nước ra khỏi ruộng ở thời điểm 15 và 30 ngày sau khi sạ. Nước được rút khô kiệt ít nhất 5 ngày (mực thủy cấp cách mặt đất 10 – 15 cm), đến khi mặt ruộng nứt chân chim 2 – 3 mm thì vô nước lại, bón phân. Bón thêm phân vôi, phân lân và kali để tăng khả năng chống chịu của cây lúa.
– Chọn giống chống chịu tốt với điều kiện đất phèn và nhiều hữu cơ.
| Chất mùn hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng thông qua các đặc tính lý, hóa và sinh của đất như: – Bản thân chất mùn hữu cơ cung cấp chất đạm, lân, lưu huỳnh và các chất vi lượng một cách từ từ cho cây trồng. – Chất mùn hữu cơ được xem như là một kho tích trữ dưỡng chất từ phân hóa học. Vai trò này rất quan trọng, giúp hạn chế việc mất phân sau khi bón vì nếu không chúng bị bốc hơi hoặc rửa trôi đi. Những chất dinh dưỡng được mùn hữu cơ giữ lại này sau đó được phóng thích cho cây hấp thụ khi cần thiết. – Chất mùn hữu cơ cải thiện cấu trúc của đất, làm đất có nhiều lỗ rỗng hơn vì thế đất trở nên thông thoáng, giúp sự di chuyển của nước trong đất được dễ dàng và giữ được nhiều nước hơn. – Chất mùn hữu cơ làm tăng mật số vi sinh vật trong đất, bao gồm cả vi sinh vật có lợi. Ảnh hưởng của chất mùn đến sự sinh trưởng của cây trồng không phải chỉ đơn thuần bằng những cách trên mà còn có vai trò kích thích cho cây trồng phát triển. Tính kích thích này là do sự hiện diện của những chất có chức năng như là những chất điều hòa sinh trưởng thực vật có trong mùn hữu cơ, có hoạt tính tương tự như IAA, gibberillin, cytokinin. Hoặc là những chất ngăn cản sự phân hủy auxin. như: – Chất mùn hữu cơ kích thích sự nảy mầm của hạt và sự tăng trưởng của cây con. Vai trò của chất mùn hữu cơ, trong việc thúc đẩy sự nảy mầm của hạt và sự phát triển của cây con đã được nghiên cứu nhiều. – Chất mùn hữu cơ kích thích sự tượng rễ và sự phát triển của rễ. Tùy thuộc vào chất lượng và số lượng của chất mùn mà mức độ kích thích có khác nhau. – Chất mùn hữu cơ còn kích thích sự phát triển của chồi. |
HÙNG ANH
